Xử lý tràn dầu trên biển, có khi lên đến hàng tỷ USD 12/03/2013, 02:16:11 PM (GMT+7)

(Vfej.vn)-Chi phí khắc phục sự cố tràn dầu trên biển là rất lớn, có khi lên đến hàng tỷ USD tùy theo mức độ nghiêm trọng - ThS. Đỗ Hải, Trung tâm Ứng cứu Sự cố Tràn dầu phía Nam, cho biết.

Từ những sự vụ điển hình

 

Gần đây, tại khu vực biển ở bến số 1, cảng Dung Quất, khu kinh tế (KKT) Dung Quất, thuộc địa bàn xã Bình Thuận (Bình Sơn), tàu Racer Expresss có trọng tải 43.000 tấn khi đang neo đậu để vận chuyển gỗ xuất khẩu, trong lúc bơm dầu cặn từ các hầm chứa trong tàu thì xảy ra sự cố ống bơm bị vỡ, hậu quả 1.000 lít dầu tràn ra biển. Ngay sau khi sự cố xảy ra, đội ứng cứu sự cố tràn dầu của Công ty CP Dịch vụ Dầu khí Quảng Ngãi PTSC đã phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Công an KKT Dung Quất và chính quyền xã Bình Thuận, đã khoanh vùng, khống chế và xử lý dầu tràn, không cho dầu loang rộng. Phải mất hơn một ngày lực lượng chức năng mới xử lý xong. Sau khi thu vét lượng dầu tràn, đội ứng cứu đã dùng xà phòng tẩy rửa vệ sinh toàn bộ khu vực cảng Dung Quất. Lượng dầu FO bị tràn ra ngoài đã được thu gom, được xử lý theo quy trình để không gây ô nhiễm môi trường biển.

 


Xử lý sự cố tràn dầu (Ảnh minh họa: Chinhphu.vn)


Trước đó một thời gian, tàu chở dầu Jian Mao 9 (Trung Quốc) trên đường từ Malaysia đến Trung Quốc bị chìm cách huyện đảo Lý Sơn 72 hải lý. Trên tàu còn 80 tấn dầu FO, 20 tấn dầu DO, 200 lít dầu LO, gây nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu trên vùng biển miền Trung. Cách đó hai năm, trong khi đang bơm dầu từ tàu EAGLE MILWAUKEE (quốc tịch Singapore) trọng tải 85.000 tấn vận chuyển 52.500 tấn dầu DO nhằm phục vụ cho công tác chạy thử Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã cập vào cảng rót dầu không bến (SPM) của nhà máy tại vịnh Việt Thanh. Do sóng quá to đã làm đứt khớp nối đường ống nối từ tàu vào SPM gây nên sự cố tràn dầu ra vùng biển vịnh Việt Thanh, xã Bình Trị (Bình Sơn). Ban Quản lý Dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất cùng với nhà thầu chính Technip và các ngành chức năng của tỉnh đã phải tập trung lực lượng ứng cứu chống tràn dầu, cô lập, khoanh vùng lượng dầu tràn ra biển, thu hồi tối đa lượng dầu tràn…

Hiện nay, chi phí để khắc phục cho những sự cố tràn dầu là rất lớn và tùy theo mức độ tràn dầu, loại dầu tràn, và khu vực gần bờ hay xa bờ.

 

Theo các chuyên gia môi trường, sự cố tràn dầu xảy ra thường gây hậu quả môi trường nghiêm trọng, nhất là tại vùng nước cửa sông, vịnh và vùng biển ven bờ. Cư dân và các doanh nghiệp sinh sống và có các hoạt động phát triển ven biển và trên biển như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, nông nghiệp…Thường bị tác động trực tiếp về kinh tế và đời sống, sức khỏe của người dân cùng khu vực.

 

Tác động đến môi trường

 

Tùy thuộc vào điều kiện môi trường và thời tiết ở từng địa bàn, từng thời gian cụ thể, ảnh hưởng của dầu đối với môi trường có những tác hại khác nhau. Các khu vực cần được bảo vệ trước nhất là các nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, vùng nuôi trồng thuỷ sản, ruộng lúa ven biển, ruộng muối, rừng ngập mặn, đất ngập nước, bãi rong biển, rạn san hô, các bãi biển nằm trong khu du lịch, các khu dân cư và các điểm di tích lịch sử.

 

Sự cố tràn dầu xảy ra, thường gây hậu quả môi trường nghiêm trọng, nhất là tại các sông, vùng cửa sông, vịnh và vùng biển ven bờ. Do dầu nổi trên mặt nước làm ánh sáng giảm khi xuyên vào trong nước, nó hạn chế sự quang hợp của các thực vật biển và phytoplankton. Điều này làm giảm lượng cá thể của hệ động vật và ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái. Các thành phần hidrocacbon nhẹ trong dầu, lưu huỳnh, ni-tơ gặp ánh sáng, nhiệt độ, bốc hơi lên sẽ gây ô nhiễm nguồn không khí. Các kim loại nặng, lưu huỳnh và các thành phần khác sẽ lắng xuống và tích tụ dưới đáy biển gây ô nhiễm cho các loài thủy sinh ở tầng đáy, như san hô và các loại khác.

 

Chim và các động vật có vú biển bị dính dầu cũng bị ảnh hưởng. Dầu phủ lên bộ lông của rái cá và hải cẩu làm giảm khả năng trao đổi chất và làm giảm thân nhiệt. Khi ăn phải dầu, động vật sẽ bị chứng mất nước và giảm khả năng tiêu hóa.

 

Trong dầu thô, ngoài thành phần chính là hydrocacbon, nó còn chứa quá nhiều thành phần chưa được loại bỏ như lưu huỳnh, ni-tơ và các kim loại nặng khác. Hệ sinh thái biển bao gồm nhiều các vi sinh vật, các vật chất hữu cơ giúp duy trì và tạo ra các vi sinh vật đó. Cá tôm và các loài thủy sinh sống được cũng là nhờ nguồn này. Khi dầu loang, sẽ làm các nguồn vi sinh này chết đi, dẫn đến chuỗi thức ăn của chúng bị ảnh hưởng.

 

Xử lý triệt để, rất khó

 

Theo các chuyên gia về môi trường biển, nguyên nhân chủ yếu khi sự cố tràn dầu xảy ra, Việt Nam còn thiếu trang thiết bị và yếu về năng lực xử lý, nên xử lý việc triệt để rất khó khăn vì các thiết bị cô lập và thu hồi dầu loang trên biển như nhiều nước trên thế giới thường dùng có chi phí rất cao nước ta chưa thể đầu tư.

 

Cũng như nhiều nước trên thế giới, nước ta thường áp dụng các biện pháp để khắc phục sự cố tràn dầu đó là: Cơ học, sinh học và hóa học. Đối với biện pháp cơ học, thực hiện quây gom, dồn dầu vào một vị trí nhất định để tránh dầu lan trên diện rộng. Sử dụng phao ngăn dầu để quây khu vực dầu tràn, hạn chế ô nhiễm lan rộng và để thu gom xử lý. Sau khi dầu được quây lại, dùng máy hớt váng dầu lên kho chứa. Ưu điểm của biện pháp này là ngăn chặn, khống chế và thu gom nhanh chóng lượng dầu tràn tại hiện trường.

 

Ngoài ra, có thể áp dụng biện pháp hoá học khi có hoặc không có sự làm sạch cơ học và dầu tràn trong một thời gian dài. Cụ thể, sử dụng các chất phân tán; các chất phá nhũ tương dầu - nước; các chất keo tụ và hấp thụ dầu...để xử lý.

 

Với biện pháp sinh học là dùng các vi sinh vật phân giải dầu như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men... Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố tràn dầu thì biện pháp cơ học được xem là tiên quyết cho công tác ứng phó sự cố tràn dầu tại các sông, cảng biển. Ngoài ra, để việc ứng phó sự cố tràn dầu trên biển mang tính chuyên nghiệp đồng bộ, cần triển khai việc đóng tàu đa năng ứng phó sự cố tràn dầu trên biển.

 

Mới đây, Tổng cục Biển&Hải đảo Việt Nam đã hoàn thiện Hệ thống Bản đồ Nhạy cảm do dầu, cùng với chương trình mô phỏng vết dầu loang khu vực biển phía Nam và Tây Nam Bộ. Theo Cục Điều tra&Kiểm soát Tài nguyên&Môi trường biển, thuộc Tổng cục Biển&Hải đảo, 70% số lượng tàu hằng năm chạy qua vùng biển Việt Nam là tàu chở dầu. Do vậy, vấn đề quy trách nhiệm và công tác bồi hoàn không thể thực hiện được do thiếu cơ sở pháp lý, cũng như hệ thống tài liệu kỹ thuật để giám sát và truy tìm nguyên nhân, thủ phạm gây tràn dầu.

 

Hệ thống bản đồ và chương trình mô phỏng sẽ hỗ trợ việc giám sát, tìm kiếm thủ phạm gây ra và xử lý sự cố, góp phần khắc phục tình trạng nói trên. Theo đó, với các kịch bản mô phỏng vết dầu loang được đưa ra trong điều kiện trường gió, trường dòng chảy theo mùa, kết hợp số liệu dự báo môi trường Trung tâm Quan trắc Dự báo NCEP (Hoa Kỳ) quan trắc thường xuyên trường gió, không khí, độ ẩm trên toàn cầu, lập ra trường khí tượng cung cấp 6 tiếng/lần và xử lý số liệu tự động. Sau đó, dùng một mô hình số trị dự báo thời tiết của Hoa Kỳ nội suy trường gió trên biển, tính toán quá trình lan chuyển, biến đổi, lan tỏa của sóng biển sẽ xác định khu vực bị ảnh hưởng dầu tràn cũng như truy tìm thủ phạm gây ra sự cố tràn dầu.

 

Với kịch bản này, người ta có thể xác định vùng nhạy cảm nhất để đưa lực lượng ứng phó kịp thời. Cùng với Hệ thống kỹ thuật này, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và Hải đảo Việt Nam tiếp tục nghiên cứu quy trình sử dụng chất phân tán cho vùng biển Việt Nam, một loại hoá chất khi rải vào vệt dầu loang sẽ làm phân tán các hạt dầu, làm giảm nồng độ dầu và giảm độ độc hại của dầu đối với môi trường sinh thái.

 

Cần kế hoạch lâu dài

 

Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ về ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên&Môi trường, trong thời gian tới cần xây dựng chung kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ về ứng phó sự cố tràn dầu cho từng giai đoạn. Xây dựng và triển khai cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài nguyên&Môi trường với Ủy ban Quốc gia&Tìm kiếm Cứu nạn để triển khai thực hiện các nhiệm vụ về ứng phó sự cố tràn dầu theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật về môi trường và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường.

 

Giải pháp chung cho vấn đề nêu trên là cơ quan bảo vệ pháp luật cần buộc người gây ô nhiễm môi trường trước hết phải thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Trong trường hợp họ không thực hiện các biện pháp đó thì cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ xác định thiệt hại để người gây ô nhiễm phải bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.

Hồng Minh
Cơ quan chủ quản: Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam
Địa chỉ: Số 22/A2, Ngõ 49, Phố Linh Lang, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, TP Hà Nội
Địện thoại: (84-4)37628933 - Fax: (84-4)37628933 - Email: vfej@vfej.vn
GPXB: Số 513/GP-BC cấp ngày 22/11/2007