Các vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Ngày càng có nhiều quốc gia định hướng phát triển đất nước theo con đường bền vững. Ở một phạm vi hẹp hơn, các vấn đề môi trường liên quan đến sức khoẻ cộng đồng ngày càng được chú trọng nghiên cứu. Khái niệm sức khoẻ môi trường đang dần được hoàn thiện. Hội nghị quốc tế đầu tiên của Liên hợp quốc về môi trường năm 1972 lấy tiêu đề là Hội nghị môi trường và con người. Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Liên hợp quốc năm 1992 lấy tên là Hội nghị thượng đỉnh môi trường và phát triển. Xem ra môi trường, sức khoẻ cộng đồng, phát triển bền vững gắn chặt với con người và đương nhiên, bao gồm cả quyền con người. Chắc chắn có nhiều nội dung nghiên cứu lý thú.
Các báo cáo chính thức trong và ngoài nước {1, 3, 17}, nhiều công trình nghiên cứu trước đây và hiện nay {ví dụ 5, 7, 8, 11, 12, 13, 14, 15, 17} đã đề cập tới nhiều vấn đề báo động liên quan đến tài nguyên và môi trường nước ta. Dưới đây đưa ra một số dẫn chứng, số liệu, tư liệu phản ảnh tình trạng đó.
Khoảng 2/3 diện tích đất của nước ta là đồi và núi, đất nông nghiệp chiếm không quá 30%. Tình hình sử dụng đất có nhiều bất cập, thường được dẫn chứng ở sự suy giảm mạnh và liên tục của diện tích đất canh tác trên đầu người (xem hình 1).
Thoái hoá đất, xói mòn đất, hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn đất cũng như việc sử dụng ngày càng nhiều hoá chất trong nông nghiệp,... đang làm suy giảm tài nguyên đất. Có tới khoảng 50% diện tích đất của nước ta được xác định là có chất lượng kém do các hoạt động của con người. Xói mòn đất tác động đến khoảng 70% tổng diện tích tự nhiên của đất nước.
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đã xác định tài nguyên nước của ta không bền vững, thậm chí nếu tính tỷ lệ nước bình quân đầu người theo tiêu chuẩn của Hội tài nguyên nước quốc tế thì nước ta được coi là quốc gia thiếu nước (3.840 so với tiêu chuẩn 4.000 m3/người/năm, nếu tính lượng nước sinh ra trong lãnh thổ). Nếu tính cả lượng nước từ nước ngoài chảy vào thì phải tính tới các dự báo về sự suy giảm nước mặt trên phạm vi toàn thế giới (cuối thế kỷ XXI, lượng nước mặt chỉ còn bằng 86% lượng nước hiện nay). Tài nguyên nước của ta phân bổ rất không đều theo không gian và thời gian (đồng bằng sông Cửu Long chiếm 60% tổng lượng nước, mùa lũ chiếm 70-80% tổng lượng nước).
Ô nhiễm nguồn nước đang là nguy cơ thực sự đối với suy giảm tổng lượng và chất lượng nước. Những tít in đậm sau đây được trích dẫn từ Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2006 đã nêu lên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đối với 3 trong những lưu vực sông quan trọng nhất của nước ta (bảng 1)
3. Biển
Diện tích biển nước ta rộng hơn 3 lần đất liền. Trong quá khứ cũng như hiện tại, biển luôn đóng vai trò quan trọng dựng nước và giữ nước. Về mặt sinh thái, biển nước ta đang có nhiều vấn đề. Các rạn san hô đang bị đe dọa, theo số liệu điều tra các rạn san hô lớn của ta, chỉ có khoảng 1% là còn ở trạng thái tốt nghĩa là có trên 75% san hô sống. Cỏ biển đang suy thoái cùng với rừng ngập mặn đang tiếp tục suy giảm. Lượng hải sản đánh bắt hàng năm tuy tăng song hiệu suất đánh bắt giảm, kích cỡ các loài đánh bắt được ngày càng nhỏ bé. Nước biển gần bờ có nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm. Sự cố dầu tràn gia tăng về số lần cũng như tổng lượng dầu tràn là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển. Năm 2006 – 2007 hầu như tất cả các tỉnh có biển đều phải huy động người đi theo thu gom dầu tràn tấn công các bãi biển. Nghiên cứu mãi chưa rõ nguồn gốc dầu này.
4. Khoáng sản
Theo một số liệu thống kê (năm 1997), có tới 30.000 cơ sở hoạt động khai thác khoáng sản tại trên 1200 mỏ và điểm mỏ, nhưng chỉ có khoảng 600 mỏ được đăng ký theo Luật. Phần lớn các mỏ quy mô nhỏ, khai thác thủ công. Các phương pháp chế biến khoáng sản chủ yếu là chế biến cơ học, các chỉ tiêu khoa học kỹ thuật chỉ bằng 50-70% so với cùng loại của thế giới, mức thực thu các khoáng vật có ích trong quặng tinh quá thấp so với thế giới từ 10 – 30% gây tổn thất lớn tài nguyên.
5. Rừng
Diện tích này gần đây liên tục tăng, nhưng rừng nguyên sinh, rừng giàu trữ lượng và kín tán còn rất ít khoảng trên 10% trong khi rừng nghèo và rừng tái sinh chiếm tới trên 50%. Trong khi đó, đất lâm nghiệp ngày càng bị suy thoái.
Tại Hội thảo ngày 4/10/2007, hiện trên cả nước có gần 2 triệu ha đất lâm nghiệp bị suy thoái nghiêm trọng và hơn 2 triệu ha đất đang sử dụng khác có nguy cơ bị suy thoái cao. Kết quả khảo sát mới nhất cho thấy tình trạng thoái hoá đất đang ngày càng gia tăng tại Tứ giác Long Xuyên, Bình Thuận, Ninh Thuận, Đắk Lắk và Sơn La.
Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vừa nêu là do quy hoạch sử dụng đất chưa tốt, việc giao đất giao rừng cho người dân ở nhiều địa phương thực hiện rất chậm, sự phối hợp liên ngành trong quản lý sử dụng đất đai còn kém.
Các hoạt động khai thác gỗ, lâm sản đã chính thức được hạn chế, những nạn lâm tặc khai thác bất hợp pháp chưa được ngăn chặn, hàng năm lấy đi khoảng 0,5 – 2 triệu m3 gỗ. Cháy rừng xảy ra thường xuyên, mỗi năm mất khoảng 10-15.000 ha.
Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới (có tài liệu nói là 1 trong 10). Tính đặc hữu của đa dạng sinh học cũng cao hơn so với các nước trong khu vực. Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới từng ước tính giá trị khai thác tài nguyên sinh vật theo nghĩa hẹp ở Việt Nam cũng đạt trên 2 tỷ đô la Mỹ hàng năm.
Tuy nhiên, đa dạng sinh học ở Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ. Số lượng các loài bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam là cao và đang gia tăng.
Một trong những nguyên nhân chính của suy giảm đa dạng sinh học là “thị trường ngầm” buôn bán động thực vật hoang dã.
4. Từ 1997 đến năm 2001 đã bắt giữ 182.804 vụ buôn bán động vật hoang dã trái phép với trọng lượng khoảng 250 tấn, phạt nộp Ngân sách 310 tỷ đồng.
Năm 2000, lượng chất thải phát sinh tại các đô thị lớn bình quân là khoảng 0,5 đến 0,8 kg/người/ngày. Trong tổng lượng trên 9 triệu tấn rác năm 1999, rác thải minh hoạt chiếm 76%, chất thải công nghiệp, bao gồm cả chất thải công nghiệp nguy hại khoảng 11%. Việc thu gom sử lý rác thải sinh hoạt chỉ đạt khoảng 60%, trong khi chất thải rắn nguy hại phần lớn không được xử lý. Đây là một nguy cơ rất lớn.
Tại Việt Nam, bệnh lý đường hô hấp là bệnh thường gặp nhất trong mô hình bệnh tật, và một trong những nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm không khí.
Khảo sát của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trờng cho thấy: Ơ ,Hà Nội vào những giờ cao điểm, nồng độ bụi gấp 4 lần TCCP ; CO cao hơn 2,5 – 4,4 lần; hơi xăng 12,1 – 2000 lần. Trẻ ở lứa tuổi học đường sống quanh các nút giao thông có biểu hiện triệu chứng bị ảnh hưởng rõ tới sức khoẻ như bị kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật.
Kết quả điều tra của Trung tâm y tế dự phòng tại Hải Phòng về mối liên quan giữa tỷ lệ nhập viện của trẻ em dới 5 tuổi và kết quả quan trắc không khí, cho thấy có tỷ lệ cao trẻ em mắc bệnh hô hấp cấp liên quan đến thời điểm không khí bị ô nhiễm nặng.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu, điều tra qui mô nào được tiến hành để tìm hiểu mô hình bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí được thực hiện.
– Các bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao nhất theo thứ tự là cúm, tiêu chảy, hội chứng lỵ, sốt xuất huyết, quai bị, HIV/AIDS, viêm gan virus (Cục y tế dự phòng, 2005).
· Tình trạng nhiễm giun rất phổ biến, chiếm khoảng 80% dân số. Tỷ lệ nhiễm giun tóc dao động từ 28,5-87% tuỳ theo địa phương, giun móc từ 6-70%.
· Các bệnh có véc tơ truyền bệnh liên quan đến môi trường đất và nước gặp nhiều nhất là sốt rét , sốt xuất huyết và những năm gần đây bùng phát nhiều vụ dịch sốt xuất huyêt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng 5. Các bệnh lây lan qua đường nước ở Việt Nam từ 1995-2005
· Một số kết quả điều tra gần đây của Viện YHLĐ và VSMT (2005) cho thấy hàm lượng Asen trong nguồn nước ngầm vượt quá tiêu chuẩn cho phép có nơi cao gấp hàng chục lần.
· Điều tra gần đây tại một xã ở Hà Nam cho kết quả: 1819/1928 (94,3%) giếng khoan đang được sử dụng có hàm lượng Asen (từ 100 – 500 ppb) cao hơn tiêu chuẩn của Việt Nam và Quốc tế (>10 ppb).
· Tiếp xúc với Asen với hàm lượng >50 ppb trong thời gian dài, hay 500 ppb trong thời gian ngắn gây tình trạng nhiễm độc Asen. Bệnh lý do nhiễm Asen: ung thư da, ung thư nội tạng , một số bệnh tim mạch và có thể tử vong.
Hiện nay ở Việt nam vẫn chưa có chương trình khảo sát Asen và đánh giá tác hại của nó đối với sức khoẻ cộng đồng trên diện rộng và qui mô.
Tại Việt Nam: chất thải bệnh viện khoảng 21.000 tấn/ năm, với tỷ lệ 0,75 kg/bệnh nhân/ngày.Bình quân số lượng rác thải sinh hoạt trong một bệnh viện khoảng 1.192 kg/tháng, trong đó rác y tế 307 kg/tháng/giường bệnh.
Chất thải y tế chứa nhiều mầm gây bệnh quan trọng như vi khuẩn salmonella, giun sán, vi khuẩn lao, virus viêm gan, herpes. Khoảng 12-25% là chất thải có tính chất đặc biệt nguy hiểm gọi là chất thải rắn lâm sàng, cần được quản lý và xử lý riêng biệt.
92,5% số bệnh viện có thu gom rác thường kỳ, 14% số bệnh viện có phân loại rác y tế và sinh hoạt để xử lý. Tuy nhiên, phân loại rác từ các khoa ,phòng khám và điều trị bệnh nhân còn chưa thường xuyên và phổ biến.
Hầu hết các chất thải rắn ở các bệnh viện đều không được xử lý trước khi chôn hoặc đốt. Một số ít bệnh viện có lò đốt rác song quá cũ, hoặc đốt hoàn toàn lộ thiên, sử dụng dầu và củi để đốt gây ô nhiễm môi trường.
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên môi trường (2006): có 65 cơ sở sản xuất, 9 địa điểm có kho hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm, và 8 điểm nóng ô nhiễm hoá chất chiến tranh.
Nhận thức của người dân và người lao động về vấn đề ô nhiễm của các chất độc hại và phóng xạ còn rất hạn chế. Kết quả điều tra trên 272 CBCNV có tiếp xúc trực tiếp với môi trường sản xuất Titan tại khu vực miền Trung cho thấy chỉ 25% số người có công thức máu hoàn toàn bình thường còn 75% có biến đổi bất thường các dòng tế bào máu - trong số đó có 6,4% bị nhiễm xạ nghề nghiệp (bạch cầu dưới 4000/mm3).
Hiện nay chưa có chương trình điều tra tổng thể tầm quốc gia về mô hình, cơ cấu bệnh tật của ngời dân tại các địa điểm có điểm nóng ô nhiễm.
Ngộ độc thức ăn là một bệnh cấp tính, xẩy ra do ăn phải thức ăn nhiễm vi khuẩn hoặc độc tố của vi khuẩn hoặc thức ăn có chứa các chất dộc hại.Việc sử dụng phổ biến thuốc trừ sâu,thuốc trừ dịch hại, các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm,các chất bảo quản nông sản,thưc phẩm là những nguyên nhân gây ô nhiễm và ngộ dộ thực phẩm. Theo Cục vệ sinh an toàn thực phẩm trong năm 2005 đã xẩy ra 3077 vụ ngộ độc thuốc trừ sâu; 43000 người bị ngộ độc thực phẩm, trong số đó có 52 người tử vong.
Các vi khuẩn có trong thực phẩm có thể gây bệnh nhiễm khuẩn hoặc gây ngộ độc cho người ăn. Các bệnh nhiễm khuẩn là do ăn phải vi khuẩn gây bệnh, chúng phát triển trong cơ thể người, thường là trong đường ruột. Ngộ độc thực phẩm do ăn phải chất độc hình thành từ trước (chất độc do vi khuẩn sinh ra trong thực phẩm từ trước khi ăn).
8. Ô nhiễm hoá học
+ Các hoá chất cho thêm vào để chế biến đặc biệt, như các chất làm trắng bột, các chất làm tăng khả năng thành bánh, dai, dòn của bột, các chất làm cứng thực phẩm, tăng khẩu vị: Mì chính,...
Các con sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho đô thị và nông thôn. Đặc biệt người dân ở vùng nông thôn và những người có thu nhập thấp thường sử dụng trực tiếp nước sông bị các chất gây ô nhiễm nước có nguồn gốc trong tự nhiên (một số vi sinh vật, kim loại nặng...) hoặc từ quá trình sản xuất và sinh hoạt (hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, dầu, các chất ô nhiễm hữu cơ,...). Đây là nguyên nhân dẫn đến các bệnh đường ruột, phụ khoa, da liễu thậm chí gây ra bệnh ung thư... Nguồn nước ô nhiễm tác động trực tiếp tới sức khoẻ con người thông qua ăn uống và sinh hoạt.
Khi môi trường nước có hàm lượng kim loại nặng cũng như các hoá chất bảo vệ thực vật vượt mức quy định, những chất này sẽ được tích lũy trong các loài động thực vật thủy sinh và cây trồng. Thực phẩm này khi chuyển hoá trong cơ thể con người, các chất nguy hại sẽ được tích tụ, đến khi vượt ngưỡng cho phép sẽ làm rối loạn chức năng nhiều cơ quan trong cơ thể, có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm như gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, các bệnh tim mạch (cao huyết áp, rối loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi, bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và não), các loại bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố, sạm da, sừng hoá, ung thư da...), tiểu đường, bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh hoặc dẫn đến tử vong.
Trong 3 LVC Cầu, Nhuệ - Đáy và hệ thống sông Đồng Nai, tại những nơi có dòng chảy ô nhiễm đi qua tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến chất lượng nước mặt tương đối cao.
Trong LVS Cầu, tỉnh Bắc Kạn (có nước sông Cầu và các phụ lưu ít bị ô nhiễm) và Thái Nguyên (sử dụng chủ yếu nước hồ Núi Cốc cho nước cấp sinh hoạt), số người mắc các bệnh về đường tiêu hoá ít hơn so với các tỉnh phía hạ nguồn như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Dương.
Nước sông Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm đã ảnh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng trong lưu vực. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh về đường tiêu hoá tại những tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chất lượng nước sông Nhuệ (Hà Nam, Hà Tây) so với các tỉnh ít chịu ảnh hưởng (Ninh Bình, Nam Định) và không bị ảnh hưởng (Hoà Bình).
Trong một tỉnh, các huyện/thị có dòng sông bị ô nhiễm đi qua, tỷ lệ mắc các bệnh trên cũng lớn hơn so với những huyện/thị khác. Chẳng hạn, trong tỉnh Hà Tây (LVS Nhuệ - Đáy), các huyện nằm cạnh sông Nhuệ có tỷ lệ mắc bệnh lỵ và bệnh tiêu chảy cao hơn hẳn so với các huyện khác.
Một ví dụ điển hình khác là tại tỉnh Bình Dương (LVHTS Đồng Nai), 3 huyện Phú Giáo, Dĩ An, Thuận An không chịu ảnh hưởng của nước sông ô nhiễm nên tỷ lệ mắc bệnh lỵ và tiêu chảy thấp hơn rất nhiều so với các huyện gần sông Sài Gòn như Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên, là những khu vực bị ô nhiêm nước sông tương đối nặng.
Tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến chất lượng nước mặt tại các xã ven sông thường cao hơn so với các xã không bị ảnh hưởng của nước sông.
Trong số những người mắc bệnh liên quan đến nguồn nước thì trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao. Đây là đối tượng nhạy cảm, sức khoẻ dễ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện môi trường.
Trên địa bàn tỉnh có tới 21% trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây bị mắc bệnh tiêu chảy. Tại 2 xã Hoàng Tây, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), có tới 86% trẻ em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9% mắc bệnh giun móc. Tỷ lệ mắc các bệnh về mắt, ngoài da và phụ khoa cao.