(GMT+7)
CHUYỂN ĐỔI FONT CHỮ ÂM LỊCH TỬ VI ĐỔI TIỀN
Thống kê
34
Đang xem
3,084,101
Lượt truy cập
Mối tương tác môi trường - sức khỏe (phần 1) 28/03/2012, 10:18:20 AM (GMT+7)

Nhân Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất RIO+20, Môi trường với Cộng đồng đăng lại bài báo cáo này tại Hội thảo của Viện Nghiên cứu Quyền Con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Nguyễn Ái Quốc diễn ra năm 2007.

 
Đặt vấn đề

Các vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Ngày càng có nhiều quốc gia định hướng phát triển đất nước theo con đường bền vững. Ở một phạm vi hẹp hơn, các vấn đề môi trường liên quan đến sức khoẻ cộng đồng ngày càng được chú trọng nghiên cứu. Khái niệm sức khoẻ môi trường đang dần được hoàn thiện. Hội nghị quốc tế đầu tiên của Liên hợp quốc về môi trường năm 1972 lấy tiêu đề là Hội nghị môi trường và con người. Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Liên hợp quốc năm 1992 lấy tên là Hội nghị thượng đỉnh môi trường và phát triển. Xem ra môi trường, sức khoẻ cộng đồng, phát triển bền vững gắn chặt với con người và đương nhiên, bao gồm cả quyền con người. Chắc chắn có nhiều nội dung nghiên cứu lý thú. 
 

I. Vài nét về hiện trạng tài nguyên và môi trường

Các báo cáo chính thức trong và ngoài nước {1, 3, 17}, nhiều công trình nghiên cứu trước đây và hiện nay {ví dụ 5, 7, 8, 11, 12, 13, 14, 15, 17} đã đề cập tới nhiều vấn đề báo động liên quan đến tài nguyên và môi trường nước ta. Dưới đây đưa ra một số dẫn chứng, số liệu, tư liệu phản ảnh tình trạng đó.

1. Đất

Khoảng 2/3 diện tích đất của nước ta là đồi và núi, đất nông nghiệp chiếm không quá 30%. Tình hình sử dụng đất có nhiều bất cập, thường được dẫn chứng ở sự suy giảm mạnh và liên tục của diện tích đất canh tác trên đầu người (xem hình 1).

Hình 1. Diện tích đất canh tác và diện tích đất canh tác trên đầu người, 1990-2000


Thoái hoá đất, xói mòn đất, hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn đất cũng như việc sử dụng ngày càng nhiều hoá chất trong nông nghiệp,... đang làm suy giảm tài nguyên đất. Có tới khoảng 50% diện tích đất của nước ta được xác định là có chất lượng kém do các hoạt động của con người. Xói mòn đất tác động đến khoảng 70% tổng diện tích tự nhiên của đất nước.

2. Nước


Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đã xác định tài nguyên nước của ta không bền vững, thậm chí nếu tính tỷ lệ nước bình quân đầu người theo tiêu chuẩn của Hội tài nguyên nước quốc tế thì nước ta được coi là quốc gia thiếu nước (3.840 so với tiêu chuẩn 4.000 m3/người/năm, nếu tính lượng nước sinh ra trong lãnh thổ). Nếu tính cả lượng nước từ nước ngoài chảy vào thì phải tính tới các dự báo về sự suy giảm nước mặt trên phạm vi toàn thế giới (cuối thế kỷ XXI, lượng nước mặt chỉ còn bằng 86% lượng nước hiện nay). Tài nguyên nước của ta phân bổ rất không đều theo không gian và thời gian (đồng bằng sông Cửu Long chiếm 60% tổng lượng nước, mùa lũ chiếm 70-80% tổng lượng nước).

Ô nhiễm nguồn nước đang là nguy cơ thực sự đối với suy giảm tổng lượng và chất lượng nước. Những tít in đậm sau đây được trích dẫn từ Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2006 đã nêu lên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đối với 3 trong những lưu vực sông quan trọng nhất của nước ta (bảng 1)

Bảng 1. Hiện trạng ô nhiễm Lưu vực theo tên gọi các mục của Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2006
 

Số TT
Tên gọi các mục trong Báo cáo
Ghi chú
 
 
Lưu vực sông Cầu
 
Diện tích tự nhiên 6.030 km2
 
1
Sông Cầu qua tỉnh Bắc Kạn đã bắt đầu bị ô nhiễm ở một vài vị trí
2
Sông Cầu qua tỉnh Thái Nguyên bị ô nhiễm rõ rệt, đặc biệt là đoạn sông chảy qua thành phố Thái Nguyên
3
Sông Cầu từ cầu Vát đến cầu Phả Lại có nhiều đoạn không đạt tiêu chuẩn cho phép và bị ô nhiễm hữu cơ
 
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy
 
Diện tích tự nhiên 7.665 km2
 
4
Các sông nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm nghiêm trọng
5
Sông Nhuệ bị ô nhiễm nghiêm trọng sau khi nhận nước từ sông Tô Lịch
6
Sông Đáy bị ô nhiễm cục bộ với mức độ ngày càng gia tăng, đặc biệt nước sông chịu ảnh hưởng của ô nhiễm sông Nhuệ
7
Các sông khác trong khu vực cũng có xu hướng suy giảm chất lượng nước.
 
 
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
 
Diện tích tự nhiên 37.400 km2
8
Sông Đồng Nai có nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là vùng hạ lưu.
9
Hệ thống sông Sài Gòn bị ô nhiễm nghiêm trọng, chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh và một số nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng.
10
Chất lượng nước của các sông khác trong lưu vực cũng đang bị suy giảm.

 
 

3. Biển


Diện tích biển nước ta rộng hơn 3 lần đất liền. Trong quá khứ cũng như hiện tại, biển luôn đóng vai trò quan trọng dựng nước và giữ nước. Về mặt sinh thái, biển nước ta đang có nhiều vấn đề. Các rạn san hô đang bị đe dọa, theo số liệu điều tra các rạn san hô lớn của ta, chỉ có khoảng 1% là còn ở trạng thái tốt nghĩa là có trên 75% san hô sống. Cỏ biển đang suy thoái cùng với rừng ngập mặn đang tiếp tục suy giảm. Lượng hải sản đánh bắt hàng năm tuy tăng song hiệu suất đánh bắt giảm, kích cỡ các loài đánh bắt được ngày càng nhỏ bé. Nước biển gần bờ có nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm. Sự cố dầu tràn gia tăng về số lần cũng như tổng lượng dầu tràn là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển. Năm 2006 – 2007 hầu như tất cả các tỉnh có biển đều phải huy động người đi theo thu gom dầu tràn tấn công các bãi biển. Nghiên cứu mãi chưa rõ nguồn gốc dầu này.


          4. Khoáng sản
 
 

Theo một số liệu thống kê (năm 1997), có tới 30.000 cơ sở hoạt động khai thác khoáng sản tại trên 1200 mỏ và điểm mỏ, nhưng chỉ có khoảng 600 mỏ được đăng ký theo Luật. Phần lớn các mỏ quy mô nhỏ, khai thác thủ công. Các phương pháp chế biến khoáng sản chủ yếu là chế biến cơ học, các chỉ tiêu khoa học kỹ thuật chỉ bằng 50-70% so với cùng loại của thế giới, mức thực thu các khoáng vật có ích trong quặng tinh quá thấp so với thế giới từ 10 – 30% gây tổn thất lớn tài nguyên. 

Bảng 2. Tổng quan tình hình khai thác khoáng sản
 
Loại khoáng sản
Số mỏ và điểm mỏ
Ghi chú
 
Phát hiện
Khai thác
 
Khoáng sản khí
Khoáng sản lỏng
Khoáng sản rắn năng lượng
Khoáng sản kim loại
Kim loại màu
Khoáng sản quý hiếm và đất hiếm
Khoáng sản không kim loại
Khoáng chất công nghiệp
05
438
394
408
175
125
 
1504
54
01
331
145
134
74
47
 
674
12
63 loại
 
 
 
 
Điểm khai thác

 

5. Rừng 
 

Diện tích này gần đây liên tục tăng, nhưng rừng nguyên sinh, rừng giàu trữ lượng và kín tán còn rất ít khoảng trên 10% trong khi rừng nghèo và rừng tái sinh chiếm tới trên 50%. Trong khi đó, đất lâm nghiệp ngày càng bị suy thoái.

Hình 2: Sự thay đổi thành phần rừng tự nhiên
 
 
 
Hộp 2. Suy thoái đất lâm nghiệp gia tăng

 

Tại Hội thảo ngày 4/10/2007, hiện trên cả nước có gần 2 triệu ha đất lâm nghiệp bị suy thoái nghiêm trọng và hơn 2 triệu ha đất đang sử dụng khác có nguy cơ bị suy thoái cao. Kết quả khảo sát mới nhất cho thấy tình trạng thoái hoá đất đang ngày càng gia tăng tại Tứ giác Long Xuyên, Bình Thuận, Ninh Thuận, Đắk Lắk và Sơn La.

 

Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vừa nêu là do quy hoạch sử dụng đất chưa tốt, việc giao đất giao rừng cho người dân ở nhiều địa phương thực hiện rất chậm, sự phối hợp liên ngành trong quản lý sử dụng đất đai còn kém.

 
(Theo Hội thảo đánh giá giữa kỳ chương trình đối tác quản lý đất lâm nghiệp bền vững giai đoạn I, H. ngày 4/10/2007).

 
Các hoạt động khai thác gỗ, lâm sản đã chính thức được hạn chế, những nạn lâm tặc khai thác bất hợp pháp chưa được ngăn chặn, hàng năm lấy đi khoảng 0,5 – 2 triệu m3 gỗ. Cháy rừng xảy ra thường xuyên, mỗi năm mất khoảng 10-15.000 ha. 
 

6. Đa dạng sinh học (tài nguyên sinh vật)

 

Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới (có tài liệu nói là 1 trong 10). Tính đặc hữu của đa dạng sinh học cũng cao hơn so với các nước trong khu vực. Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới từng ước tính giá trị khai thác tài nguyên sinh vật theo nghĩa hẹp ở Việt Nam cũng đạt trên 2 tỷ đô la Mỹ hàng năm. 

Tuy nhiên, đa dạng sinh học ở Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ. Số lượng các loài bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam là cao và đang gia tăng.


Bảng 3. Số lượng loài đang bị đe dọa
Loài
 
Nguy cơ tuyệt chủng
Dễ tổn thương
Bị đe dọa
Hiếm
Thú
34
25
0
21
Chim
13
6
32
30
Bò sát – lưỡng cư
8
19
16
11
7
20
12
29
Không xương sống
9
22
9
31
Thực vật bậc cao
24
54
81
150
Thực vật bậc thấp
0
7
3
7
 

Một trong những nguyên nhân chính của suy giảm đa dạng sinh học là “thị trường ngầm” buôn bán động thực vật hoang dã.

 
Hộp 3. Tình trạng hủy diệt đa dạng sinh học
1.   Năm 2002, “thị trường” buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam đạt gần 70 triệu đô la Mỹ.
2.   Thị trường buôn bán rùa nước ngọt với Trung Quốc ước tính có thể lên tới 1 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.
3.   Tồn tại một thị trường (lậu) buôn bán các rạn san hô sống, chủ yếu là xuất sang Trung Quốc.

 

4.   Từ 1997 đến năm 2001 đã bắt giữ 182.804 vụ buôn bán động vật hoang dã trái phép với trọng lượng khoảng 250 tấn, phạt nộp Ngân sách 310 tỷ đồng.

5.   Trong 4 năm 2000 – 2003 đã thu được 90.565 con động vật hoang dã bị buôn bán trái phép với trọng lượng tổng cộng là 312 tấn.
 
(Tổng hợp từ các nguồn khác nhau)
 
 
7. Gia tăng mạnh mẽ chất thải rắn và chất thải nguy hại
 

Năm 2000, lượng chất thải phát sinh tại các đô thị lớn bình quân là khoảng 0,5 đến 0,8 kg/người/ngày. Trong tổng lượng trên 9 triệu tấn rác năm 1999, rác thải minh hoạt chiếm 76%, chất thải công nghiệp, bao gồm cả chất thải công nghiệp nguy hại khoảng 11%. Việc thu gom sử lý rác thải sinh hoạt chỉ đạt khoảng 60%, trong khi chất thải rắn nguy hại phần lớn không được xử lý. Đây là một nguy cơ rất lớn.

Bảng dưới đây cho thấy lượng chất thải công nghiệp nguy hại ở một số địa phương tính cho năm 2001.
 Bảng 4: 7 địa điểm sản sinh chất thải công nghiệp nguy hại lớn nhất ở Việt Nam

TP/Tỉnh
 
Tấn/năm
TP HCM
46.172
Đồng Nai
34.884
Hà Nội
18.108
Hải Phòng
4.657
Đà Nẵng
1.933
Bà Rịa – Vũng Tàu
1.830
Quảng Nam
1.783
 
 
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2001. Bộ KHCN&MT – Cục Môi trường   
 
II. Môi trường và sức khoẻ
 
1. Ô nhiễm không khí và bệnh tật
 

Tại Việt Nam, bệnh lý đ­ường hô hấp là bệnh th­ường gặp nhất trong mô hình bệnh tật, và một trong những nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm không khí. 

       Các bệnh viêm phổi:                          415,09/ 100.000
 
       Viêm họng và viêm amidan cấp:          309,40 / 100.000
 
       Viêm phế quản và tiểu phế quản cấp:          305,51 / 100.000

 

Khảo sát của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi tr­ờng cho thấy: Ơ ,Hà Nội vào những giờ cao điểm, nồng độ bụi gấp 4 lần TCCP ; CO cao hơn 2,5 – 4,4 lần; hơi xăng 12,1 – 2000 lần. Trẻ ở lứa tuổi học đ­ường sống quanh các nút giao thông có biểu hiện triệu chứng bị ảnh hưởng rõ tới sức khoẻ nh­ư bị kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật. 

Kết quả điều tra của Trung tâm y tế dự phòng tại Hải Phòng về mối liên quan giữa tỷ lệ nhập viện của trẻ em d­ới 5 tuổi và kết quả quan trắc không khí, cho thấy có tỷ lệ cao trẻ em mắc bệnh hô hấp cấp liên quan đến thời điểm không khí bị ô nhiễm nặng. 

Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu, điều tra qui mô nào đ­ược tiến hành để tìm hiểu mô hình bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí đ­ược thực hiện.
 

2.  Bệnh dịch liên quan đến nước sạch và môi trường
·       
Năm 2005, tại Việt Nam:

 

     Các bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát có tỷ lệ mắc trên   100.000 dân cao nhất theo thứ tự là cúm, tiêu chảy, hội chứng lỵ, sốt xuất huyết, quai bị, HIV/AIDS, viêm gan virus (Cục y tế dự phòng, 2005).

     1/2 trong tổng số các bệnh truyền nhiễm mắc cao nhất là những bệnh có liên quan đến nư­ớc sạch và VSMT.

 

·       Tình trạng nhiễm giun rất phổ biến, chiếm khoảng 80% dân số. Tỷ lệ nhiễm giun tóc dao động từ 28,5-87% tuỳ theo địa phư­ơng, giun móc từ 6-70%.

 

·       Các bệnh có véc tơ truyền bệnh liên quan đến môi trư­ờng đất và n­ước gặp nhiều nhất là sốt rét , sốt xuất huyết và những năm gần đây bùng phát nhiều vụ dịch sốt xuất huyêt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 


Bảng 5. Các bệnh lây lan qua đường nước ở Việt Nam từ 1995-2005


Bệnh (ca)
1995
2000
2005
Tả
4.485
176
317
Thương hàn
30.900
4.367
7.090
Lỵ
48.350
149.180
174.722
Sốt virus
80.447
984.617
1.062.440
Iả chảy
573.300
25.269
28.728
Sốt rét
666.153
293.016
185.529
 
Nguồn: Vụ Y tế Dự phòng, Bộ Y tế.2005


3. Ô nhiễm Aresnic trong nguồn nước

 

·        Một số kết quả điều tra gần đây của Viện YHLĐ và VSMT (2005) cho thấy hàm l­ượng Asen trong nguồn nư­ớc ngầm v­ượt quá tiêu chuẩn cho phép có nơi cao gấp hàng chục lần.

 

·        Điều tra gần đây tại một xã ở Hà Nam cho kết quả: 1819/1928 (94,3%) giếng khoan đang đư­ợc sử dụng có hàm l­ượng Asen (từ 100 – 500 ppb) cao hơn tiêu chuẩn của Việt Nam và Quốc tế (>10 ppb).

 
·        Một khảo sát khác tại Hà Nội cho thấy 68,92% mẫu nư­ớc ở tầng trên và 48% mẫu nước ở tầng d­ưới có nồng độ Asen cao hơn mức cho phép của Việt Nam và quốc tế.

 

·        Tiếp xúc với Asen với hàm lư­ợng >50 ppb trong thời gian dài, hay 500 ppb trong thời gian ngắn gây tình trạng nhiễm độc Asen. Bệnh lý do nhiễm Asen: ung thư­ da, ung thư nội tạng , một số bệnh tim mạch và có thể tử vong. 

Hiện nay ở Việt nam vẫn chư­a có ch­ương trình khảo sát Asen và đánh giá tác hại của nó đối với sức khoẻ cộng đồng trên diện rộng và qui mô.
 

4.  Chất thải rắn và chất thải bệnh viện

 

Tại Việt Nam: chất thải bệnh viện khoảng 21.000 tấn/ năm, với tỷ lệ 0,75 kg/bệnh nhân/ngày.Bình quân số l­ượng rác thải sinh hoạt trong một bệnh viện khoảng 1.192 kg/tháng, trong đó rác y tế 307 kg/tháng/giư­ờng bệnh. 

Chất thải y tế chứa nhiều mầm gây bệnh quan trọng nh­ư vi khuẩn salmonella, giun sán, vi khuẩn lao, virus viêm gan, herpes. Khoảng 12-25% là chất thải có tính chất đặc biệt nguy hiểm gọi là chất thải rắn lâm sàng, cần được quản lý và xử lý riêng biệt. 

92,5% số bệnh viện có thu gom rác thư­ờng kỳ, 14% số bệnh viện có phân loại rác y tế và sinh hoạt để xử lý. Tuy nhiên, phân loại rác từ các khoa ,phòng khám và điều trị bệnh nhân còn chư­a thường xuyên và phổ biến. 

Hầu hết các chất thải rắn ở các bệnh viện đều không đ­ược xử lý trư­ớc khi chôn hoặc đốt. Một số ít bệnh viện có lò đốt rác song quá cũ, hoặc đốt hoàn toàn lộ thiên, sử dụng dầu và củi để đốt gây ô nhiễm môi trường.
 

5.  Điểm nóng ô nhiễm môi trường  



Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên môi tr­ường (2006): có 65 cơ sở sản xuất, 9 địa điểm có kho hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm, và 8 điểm nóng ô nhiễm hoá chất chiến tranh. 

Nhận thức của ng­ười dân và ngư­ời lao động về vấn đề ô nhiễm của các chất độc hại và phóng xạ còn rất hạn chế. Kết quả điều tra trên 272 CBCNV có tiếp xúc trực tiếp với môi tr­ường sản xuất Titan tại khu vực miền Trung cho thấy chỉ 25% số người có công thức máu hoàn toàn bình thư­ờng còn 75% có biến đổi bất thường các dòng tế bào máu - trong số đó có 6,4% bị nhiễm xạ nghề nghiệp (bạch cầu dư­ới 4000/mm3).

Sự xuất hiện của một số “làng ung thư­” gần các cơ sở sản xuất công nghiệp tuy chưa dược kiểm chứng nhưng cũng đã gây ra sự lo lắng trong nhân dân.v
 

Hiện nay chư­a có ch­ương trình điều tra tổng thể tầm quốc gia về mô hình, cơ cấu bệnh tật của ng­ời dân tại các địa điểm có điểm nóng ô nhiễm.
 

6. Ô nhiễm thực phẩm và ngộ độc thực phẩm 


Ngộ độc thức ăn là một bệnh cấp tính, xẩy ra do ăn phải thức ăn nhiễm vi khuẩn hoặc độc tố của vi khuẩn hoặc thức ăn có chứa các chất dộc hại.Việc sử dụng phổ biến thuốc trừ sâu,thuốc trừ dịch hại, các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm,các chất bảo quản nông sản,thưc phẩm là những nguyên nhân gây ô nhiễm và ngộ dộ thực phẩm. Theo Cục vệ sinh an toàn thực phẩm trong năm 2005 đã xẩy ra 3077 vụ ngộ độc thuốc trừ sâu; 43000 người bị ngộ độc thực phẩm, trong số đó có 52 người tử vong.
 

7. Ô nhiễm sinh học
 
Các con đường gây ô nhiễm thực phẩm do sinh học

 
Các tác nhân sinh học gây ô nhiễm thực phẩm: 

Các vi khuẩn có trong thực phẩm có thể gây bệnh nhiễm khuẩn hoặc gây ngộ độc cho người ăn. Các bệnh nhiễm khuẩn là do ăn phải vi khuẩn gây bệnh, chúng phát triển trong cơ thể người, thường là trong đường ruột. Ngộ độc thực phẩm do ăn phải chất độc hình thành từ trước (chất độc do vi khuẩn sinh ra trong thực phẩm từ trước khi ăn). 

Các sinh vật có độc tố: 
Ø     Độc tố nấm độc: 
Ø     Động vật có chất độc: cóc, cá nóc, độc tố trong nhuyễn thể
+        Các loài cá độc khác. 
Ø     Thực vật có chất độc: măng, sắn độc, lá ngón,... 


8. Ô nhiễm hoá học 
 

Những chất hoá học phụ gia thực phẩm bị lạm dụng:
+        Để bảo quản thực phẩm: Chất sát khuẩn, các chất kháng sinh, các chất kích thích, chất tăng trọng, các chất chống oxy hoá, chất chống mốc
+        Để tăng tính hấp dẫn của thức ăn: Chất ngọt tổng hợp, các phẩm mầu: Phẩm mầu vô cơ, phẩm mầu hữu cơ, phẩm mầu tổng hợp.

+        Các hoá chất cho thêm vào để chế biến đặc biệt, như các chất làm trắng bột, các chất làm tăng khả năng thành bánh, dai, dòn của bột, các chất làm cứng thực phẩm, tăng khẩu vị: Mì chính,...

Những hoá chất lẫn vào thực phẩm:
+        Các hoá chất công nghiệp, các hoá chất trong đất: dioxin, PCBs, vinyl chloride, acrylonitrile, benzopyrene, styrene,...
+        Các kim loại nặng: thuỷ ngân, chì, cadimi, kẽm, arsen, đồng, sắt.
+        Chất ô nhiễm trong nấu nướng, chế biến: acrylamide, chloropropanols.
 
Hoá chất bảo vệ thực vật:

 Ô nhiễm thực phẩm do hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) ở nước ta ngày càng gia tăng. Nguyên nhân do chưa kiểm soát được tình trạng nhập lậu, buôn bán các loại HCBVTV cấm qua biên giới, chưa hướng dẫn về cách dùng HCBVTV đầy đủ ,cẩn thận cho người dân, chính quyền các cấp, nhất là cơ sở cũng như các ngành chức năng chưa có biện pháp quản lý nghiêm ngặt. Chính vì vậy, tình trạng rau quả, kể cả chè xanh, bị nhiễm HCBVTV còn khá phổ biến.



9. Ví dụ cụ thể ô nhiễm lưu vực sông ảnh hưởng tới sức khoẻ con người 


Các con sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho đô thị và nông thôn. Đặc biệt người dân ở vùng nông thôn và những người có thu nhập thấp thường sử dụng trực tiếp nước sông bị các chất gây ô nhiễm nước có nguồn gốc trong tự nhiên (một số vi sinh vật, kim loại nặng...) hoặc từ quá trình sản xuất và sinh hoạt (hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, dầu, các chất ô nhiễm hữu cơ,...). Đây là nguyên nhân dẫn đến các bệnh đường ruột, phụ khoa, da liễu thậm chí gây ra bệnh ung thư... Nguồn nước ô nhiễm tác động trực tiếp tới sức khoẻ con người thông qua ăn uống và sinh hoạt.

 
Hộp 4. Tác động tích lũy của kim loại nặng và hoá chất bảo vệ thực vật

 

Khi môi trường nước có hàm lượng kim loại nặng cũng như các hoá chất bảo vệ thực vật vượt mức quy định, những chất này sẽ được tích lũy trong các loài động thực vật thủy sinh và cây trồng. Thực phẩm này khi chuyển hoá trong cơ thể con người, các chất nguy hại sẽ được tích tụ, đến khi vượt ngưỡng cho phép sẽ làm rối loạn chức năng nhiều cơ quan trong cơ thể, có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm như gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, các bệnh tim mạch (cao huyết áp, rối loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi, bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và não), các loại bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố, sạm da, sừng hoá, ung thư da...), tiểu đường, bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh hoặc dẫn đến tử vong.

 
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2005
 

Trong 3 LVC Cầu, Nhuệ - Đáy và hệ thống sông Đồng Nai, tại những nơi có dòng chảy ô nhiễm đi qua tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến chất lượng nước mặt tương đối cao. 

Trong LVS Cầu, tỉnh Bắc Kạn (có nước sông Cầu và các phụ lưu ít bị ô nhiễm) và Thái Nguyên (sử dụng chủ yếu nước hồ Núi Cốc cho nước cấp sinh hoạt), số người mắc các bệnh về đường tiêu hoá ít hơn so với các tỉnh phía hạ nguồn như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Dương. 

Nước sông Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm đã ảnh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng trong lưu vực. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh về đường tiêu hoá tại những tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chất lượng nước sông Nhuệ (Hà Nam, Hà Tây) so với các tỉnh ít chịu ảnh hưởng (Ninh Bình, Nam Định) và không bị ảnh hưởng (Hoà Bình).

Trong những năm gần đây, tỷ lệ người dân mắc các bệnh có liên quan đến nước tại các tỉnh thuộc LVHTS Đồng Nai cũng tương đối cao. 

Trong một tỉnh, các huyện/thị có dòng sông bị ô nhiễm đi qua, tỷ lệ mắc các bệnh trên cũng lớn hơn so với những huyện/thị khác. Chẳng hạn, trong tỉnh Hà Tây (LVS Nhuệ - Đáy), các huyện nằm cạnh sông Nhuệ có tỷ lệ mắc bệnh lỵ và bệnh tiêu chảy cao hơn hẳn so với các huyện khác. 

Một ví dụ điển hình khác là tại tỉnh Bình Dương (LVHTS Đồng Nai), 3 huyện Phú Giáo, Dĩ An, Thuận An không chịu ảnh hưởng của nước sông ô nhiễm nên tỷ lệ mắc bệnh lỵ và tiêu chảy thấp hơn rất nhiều so với các huyện gần sông Sài Gòn như Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên, là những khu vực bị ô nhiêm nước sông tương đối nặng. 

Tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến chất lượng nước mặt tại các xã ven sông thường cao hơn so với các xã không bị ảnh hưởng của nước sông. 

Trong số những người mắc bệnh liên quan đến nguồn nước thì trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao. Đây là đối tượng nhạy cảm, sức khoẻ dễ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện môi trường.

 
Hộp 5. Kết quả điều tra về bệnh tật do nguồn nước sông Nhuệ của tỉnh Hà Nam

 

Trên địa bàn tỉnh có tới 21% trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây bị mắc bệnh tiêu chảy. Tại 2 xã Hoàng Tây, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), có tới 86% trẻ em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9% mắc bệnh giun móc. Tỷ lệ mắc các bệnh về mắt, ngoài da và phụ khoa cao.

 
 
Nguồn: Viện Địa lý, 2005

Ngoài ra, trong 3 lưu vực sông hiện đang tiềm ẩn nguy cơ nhiễm bệnh cho cộng đồng do ảnh hưởng ô nhiễm nước. Theo chuỗi thức ăn, các chất độc hại sẽ tích luỹ trong thực phẩm (rau, cá...) rỗi chuyển hoá và tích tụ lâu dài trong cơ thể con người. Nếu không quản lý hiệu quả, hạn chế việc sử dụng tràn lan hoá chất bảo vệ thực vật, kiểm soát các nguồn thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp thì nguy cơ nhiễm các bệnh do ô nhiễm nước sẽ ngày càng tăng.
TS. Nguyễn Ngọc Sinh (VACNE)
160122
 
Tin mới
Nắng nóng thêm nhiều bệnh nặng Mật gấu có thể dẫn đến chứng bất lực Cúm H7N9 có thể kháng thuốc Tamiflu Bốn người tử vong do ngộ độc bánh trôi Lo ngại bùng phát dịch cúm A/H1N1
Các tin khác
Lo bùng phát dịch cúm gà trên người Số nhiễm H7N9 có thể gấp đôi số công bố 18 người chết vì H7N9 77 người Trung Quốc mắc H7N9, 16 người tử vong H7N9 tàn phá ghê hơn H5N1 Nguy cơ dịch A/H7N9 từ gia cầm lậu VN không là điểm đến du lịch chữa bệnh Thế giới bàn sức khoẻ châu Á Nguy cơ bùng phát dịch H7N9 Thêm số mắc và tử vong do H7N9
Xem bài theo ngày:  /   /   
Tiêu điểm
Tím -Vào thế giới đồng tính nữ 18/05/2013, 01:57:14 PM (Vfej.vn)-Người Việt đang ngày càng bớt cực đoan về đồng tính và kết hôn đồng giới, nhất là đồng tính nữ. Đây là nhận định của nhiều người tại triển lãm Tím về đồng tính nữ vừa khai mạc ở 29 Hàng Bài, Hà Nội.
Vinh danh cây nghìn tuổi giữa khu bảo tồn 17/05/2013, 08:00:36 PM (Vfej.vn)-Nằm giữa Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên thuộc tỉnh Thanh Hóa, hai loài cây quý hiếm nghìn năm tuổi nằm trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới vừa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt Nam vinh danh là cây di sản Việt Nam.
Mật gấu có thể dẫn đến chứng bất lực 16/05/2013, 08:32:24 PM (Vfej.vn)-Giới bác sỹ của Việt Nam cho rằng mật gấu có thể dẫn đến chứng bất lực của nam giới, chứ không phải làm tăng cường sinh lý, giúp "khỏe như gấu" như nhiều người lầm tưởng - Dược sỹ Phạm Hinh - Phó Chủ tịch Trung Ương hội Đông Y Việt Nam - chia sẻ.
Triển lãm ảnh, logo đa dạng sinh học 16/05/2013, 09:32:51 AM (Vfej.vn)-Hưởng ứng Ngày Quốc tế Đa dạng Sinh học, từ ngày 15 đến 22/5 tại trụ sở Bộ Tài nguyên&Môi trường, 80 tác phẩm được trưng bày tại triển lãm “Ảnh và logo đa dạng sinh học Việt Nam”.
Hoa hậu lắp đặt thùng rác sinh thái ở TP HCM 15/05/2013, 04:55:52 PM (Vfej.vn)-Trong khuôn khổ dự án “Tôi yêu sản phẩm xanh”, hai đại sứ hoa hậu Ngọc Hân và diễn viên Quốc Trưởng sẽ lắp đặt 120 thùng rác sinh thái tại công viên 23/9 ở TP Hồ Chí Minh vào Chủ Nhật tới.
Chống lãng phí thực phẩm bảo vệ môi trường 15/05/2013, 02:21:16 PM (Vfej.vn)-Diễn ra tại tỉnh Thừa Thiên – Huế từ ngày 4 đến 5/6, Ngày Môi trường Thế giới năm 2013 với chủ đề “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm - Think.Eat.Save” là một chiến dịch chống lãng phí thực phẩm, khuyến khích giảm những tác động môi trường từ việc sử dụng thực phẩm.
14 triệu EURO quản lý nghề cá bằng vệ tinh movimar 14/05/2013, 10:08:16 AM (Vfej.vn)-Dự án quản lý cá bằng vệ tinh movimar được triển khai trong ba năm (2011-2013) với tổng kinh phí đầu tư gần 14 triệu euro từ nguồn vốn ODA của Cộng hòa Pháp - TS Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý Biển&Hải đảo Việt Nam, cho biết.
Video
Phản hồi nhiều nhất
ĐỊA CHỈ MÔI TRƯỜNG
Danh sách các cá nhân tham gia mạng lưới truyền thông Danh sách mạng lưới truyền thông môi trường quốc gia Công Ty Xây Dựng Cấp Thoát Nước & Môi Trường Việt NamViện Khoa học&Kỹ thuật Môi trườngChi cục Bảo vệ môi trường Hòa BìnhChi cục Bảo vệ Môi trường Kiên GiangChi cục Bảo vệ môi trường Hậu GiangChi cục Bảo vệ môi trường Lạng SơnChi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh LongChi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bình ĐịnhChi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thừa Thiên HuếChi cục Bảo vệ Môi trường Hải PhòngChi cục Bảo vệ Môi trường Hà TĩnhChi cục Bảo vệ Môi trường Thái BìnhSở Tài nguyên&Môi trường Thái NguyênSở Tài nguyên&Môi trường Ninh ThuậnSở Tài nguyên&Môi trường Quảng TrịSở Tài nguyên&Môi trường Trà VinhSở Tài nguyên&Môi trường Bình DươngSở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Đồng Nai Sở Tài nguyên&Môi trường Trà VinhSở Tài nguyên&Môi trường Tuyên QuangSở Tài nguyên&Môi trường Hải DươngSở Tài nguyên&Môi trường Tây NinhSở Tài nguyên&Môi trường Thanh HóaSở Tài nguyên&Môi trường Bạc LiêuTrung tâm Nghiên cứu&Giáo dục Môi trườngTrung tâm Dữ liệu&Truyền thông Phòng ngừa Thiên taiTrung tâm Môi trường&Phát triểnCông ty TNHH Công nghệ Môi trường Nhiệt đớiTrung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng Trung tâm Đào tạo&Truyền thông Môi trườngChi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội Trung tâm Nghiên cứu Di dân Môi trường&Phát triển Xã hội Trung tâm Phát triển Truyền thông&Công nghệ Môi trường Trung tâm Hỗ trợ Ứng phó Biến đổi Khí hậu Trung tâm Nghiên cứu&Phát triển Bền vững Nước sạch&Vệ sinh Môi trườngTrung tâm Nghiên cứu Môi trường&Biến đổi Khí hậu Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghệ Môi trường Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Công nghệ&Bảo vệ Môi trườngViện Tài Nguyên Môi trường&Phát triển Cộng đồng Viện Công nghệ Nước&Môi trườngViện Kỹ thuật Tài nguyên Nước&Môi trườngViện Khoa học Môi trường&Sức khỏe Cộng đồng Viện Tài nguyên Môi trường&Phát triển Bền vữngViện Nghiên cứu Môi trường&Các Vấn đề Xã hội Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường BiểnHội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường TP Đà NẵngHội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Khánh HòaHội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Thủ đôHội Đánh giá Tác động Môi trường Việt NamChi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Đồng Tháp Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bắc Ninh Chi cục Bảo vệ Môi trường Đà NẵngChi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Tiền Giang Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt NamCục Thẩm định&Đánh giá Tác động Môi trường – Tổng cục Môi trườngCục Kiểm soát Ô nhiễm – Tổng cục Môi trườngCục Bảo tồn Đa dạng Sinh học - Tổng cục Môi trường Cục Kỹ thuật An toàn&Môi trường Công nghiệp - Bộ Công thươngThanh tra Tổng cục Môi trường - Tổng cục Môi trường Trung tâm Y tế Môi trường Lao động Công nghiệp – Bộ Công ThươngTrung tâm Môi trường Nông thôn – Trung ương Hội Nông dân Việt NamVụ Thống kê Xã hội&Môi trường - Tổng cục Thống kê Vụ Khoa học Công nghệ&Môi trường - Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn
Công cụ
Liên hệ quảng cáo Bảng giá quảng cáo Đường dây nóng
TRANG CHỦ  |  VỀ VFEJ  |  LIÊN KẾT  |  BẠN ĐỌC  |  
© Copyright 2007-2011 VFEJ
Thiết kế website và phát triển bởi Ovem
Cơ quan chủ quản: Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam
Địa chỉ: Số 22/A2, Ngõ 49, Phố Linh Lang, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, TP Hà Nội
Địện thoại: (84-4)37628933 - Fax: (84-4)37628933 - Email: vfej@vfej.vn
GPXB: Số 513/GP-BC cấp ngày 22/11/2007