Chuyên Mục
Liên kết website
Đổi tiền
Chương trình giải trí
Thứ ba, 07/09/2010, 00:44:37 PM (GMT+7)

Các kịch bản biến đổi khí hậu được lựa chọn (tiếp theo và hết)
30/11/2009, 10:51:37 AM(Vfej.vn)-Trong báo cáo của Bộ Tài nguyên&Môi trường (2009), các kịch bản BĐKH đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Thời kỳ dùng làm cơ sở để so sánh là 1980-1999 (cũng là thời kỳ được chọn trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC).
>> Đánh giá tác động của BDDKH và nước biển dâng tới vùng ven biển Đồng bằng Bắc Bộ

Hội thảo - điền dã “Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu ở vùng ven biển” tại Ninh Bình tháng 11/2009
2.2 Các kịch bản biến đổi khí hậu được lựa chọn
Trong báo cáo của Bộ Tài nguyên&Môi trường (2009), các kịch bản BĐKH đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Thời kỳ dùng làm cơ sở để so sánh là 1980-1999 (cũng là thời kỳ được chọn trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC). Theo khuyến cáo cũng cùng nguồn trên, kịch bản BĐKH và NBD đối với Việt Nam được khuyến nghị sử dụng trong thời điểm hiện nay là kịch bản trung bình B2. Các đặc trưng chính của kịch bản này được mô tả dưới đây.
Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam. Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6oC ở Tây Bắc, 2,5oC ở Đông Bắc, 2,4oC ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,8oC ở Bắc Trung Bộ, 1,9oC ở Nam Trung Bộ, 1,6oC ở Tây Nguyên và 2,0oC ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 (Bảng 1).
Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa và lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu. Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 7 - 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2 - 3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 . Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4-7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%.
Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 28 đến 33cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm từ 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980 - 1999 (Bảng 3).
Bảng 1. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999
|
Kịch bản |
Các mốc thời gian của thế kỷ 21 |
||||||||
|
2020 |
2030 |
2040 |
2050 |
2060 |
2070 |
2080 |
2090 |
2100 |
|
|
Trung bình (B2) |
12 |
17 |
23 |
30 |
37 |
46 |
54 |
64 |
75 |
Thông thường, BĐKH thể hiện ở những thay đổi theo xu hướng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Thí dụ về những hiện tượng thời tiết cực đoan là bão, gió lốc, mưa lớn. Bởi vậy, khi đánh giá tác động của BĐKH, phải tính đến cả hai hiện tượng này. Tại khu vực ven biển nước ta, do khả năng xảy ra sóng thần là rất nhỏ, hiện tượng thời tiết cực đoan nguy hiểm nhất cho cư dân vùng ven biển là bão có kèm nước dâng và sóng lớn. Tại các khu vực mà đê biển được rừng phòng hộ che chắn, rừng phòng hộ có khả năng triệt tiêu sóng phía trước đê. Do vậy, ngay cả trong điều kiện bão có kèm nước dâng và triều cường, đê biển vẫn không bị hư hại đáng kể. Tại các khu vực không có rừng ngập mặn, nước dâng bão kết hợp với triều cường và nước biển dâng sẽ làm gia tăng độ sâu nước trước đê, do vậy làm gia tăng rất nhiêu độ cao sóng. Sóng lớn sẽ gây xói lở tại chân đê và sóng tràn với lưu lượng lớn qua mặt đê. Do vậy, rủi ro do vỡ đê rất cao.
Để đánh giá ảnh hưởng của NBD tới khu vực ngập lụt, trong nghiên cứu này đã giả thiết rằng nước dâng bão xảy ra trong điều kiện triều cường và NBR. Hai kịch bản NBD được lựa chọn là mực nước biển sẽ dâng cao 30cm (2050) và 75cm (2100). Ngoài ra, do một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng các kết quả trên phản ánh thiên thấp mực nước biển dâng nên một kịch bản nữa là mực nước biển dâng vào năm 2100 là 100cm cũng được lựa chọn. Các kết quả tính toán mực nước dâng bão kết hợp với triều cường cho 3 trường hợp trên là 276cm (kịch bản 1), 321cm (kich bản 2) và 346cm (kịch bản 3).
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Đánh giá các tác động của BĐKH và NBD
Trước hết để có khái niệm về ảnh hưởng của NBD, chúng tôi đã giả thiết rằng nếu không có đê bao thì với các kịch bản NBD như đã được trình bày ở trên, mức độ ngập lụt theo các kịch bản sẽ được biểu thị qua các hình từ 1 đến 3. Có thể thấy rõ ràng rằng các kịch bản ngập lụt như trong các hình từ 1 đến 3 sẽ không xảy ra vì với điều kiện mực nước 1m, các đê biển có độ cao 5,5m trên mực nước biển trung bình sẽ ngăn nước tràn vào đồng. Tuy vậy, các hình từ 1 đến 3 cho biết những khu vực đất thấp và có khả năng bị ngập lụt nặng nề nếu vỡ đê trong trường hợp nước dâng bão có kết hợp với triều cường.
Để đánh giá mức độ ngập lụt tại Vình Quang, đã sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ 1:5000 và mô hình lan truyền ngập lụt trên địa hình rất phức tap. Trong tính toán, cũng giả thiết rằng dưới ảnh hưởng của NBD và thiếu sự chăm sóc của con người, rừng bần phía trước đê đã bị chết. Do vậy, sóng đánh thẳng vào đê gây vỡ đê với chiều dài 80m tại khu vực thôn Đông Dưới.
Các hình 4, 5, 6 biểu thị mức độ ngập lụt tại xã Vinh Quang do ảnh hưởng của vỡ đê trong các điều kiện NBD theo các kịch bản từ 1 đến 3. Có thể thấy rằng nếu vỡ đê trong điều kiện như các kịch bản này, gần như toàn bộ xã Vinh Quang sẽ bị ngập lụt.
Mức độ ngập lụt gia tăng từ kịch bản 1 tới kịch bản 3. Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp NBD 30cm theo kịch bản 1, như thấy trên hình 4, tại nhiều vị trí, độ sâu ngập lụt cũng trên 1m, tức là có thể gây nguy hiểm tới tính mạng con người. Có thể thấy trên hình 6 rằng nếu mực nước biển dâng 100cm, nhiều khu vực rộng lớn tại xã Vinh Quang có độ sâu ngập lụt trên 1m. Các tính toán cụ thể không được trình bày ở đây cũng cho thấy rằng ngập lụt và kèm theo đó là xâm nhập mặn gây thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp, ngư nghiệp và môi trường. Cây lúa không thể phục hồi các chức năng sinh lý bình thường khi mức ngập trên đồng ruộng vượt quá mức nhu cầu, thường độ sâu nước không vượt quá 15% chiều cao cây. Mức độ bị hại do ngập úng phụ thuộc vào khả năng chịu úng của giống cây, độ cao cây, thời kỳ sinh trưởng, mức nước ngập, thời gian ngập. Mức giảm năng suất cao nhất khi ngập xảy ra sau khi lúa trổ bông (60 ngày sau cấy). Với mức ngập cao trên 68cm, năng suất giảm 74%, lên tới 94% nếu ngập kéo dài trên 1 ngày. Diện tích bị ngập cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tác hại cho một vùng. Nhiệt độ trong thời gian bị ngập cũng ảnh hưởng tới mức độ bị hại. Nếu trời mát, lúa sẽ chịu được ngập úng lâu hơn khi trời nóng, phần trăm bị phá hủy sẽ ít hơn.
Lũ lụt không chỉ hủy hoại cây trồng, mùa màng mà còn làm giảm chất lượng đất, phá hủy cơ sở hạ tầng và hậu thuẫn của nền canh tác lúa nước. Còn khi bị ngập nước mặn, cây lúa sẽ đồng thời chịu áp lực của cả tác động do ngập úng lẫn do nhiễm mặn.Đối với cây lúa, tỷ lệ hạt lép sẽ tăng vọt khi bị nhiễm mặn trong giai đoạn làm đòng (khoảng 30 đến 60 ngày sau cấy). Giai đoạn này là giai đoạn cây lúa chịu tác động mạnh nếu bị ngập nước biển. Nước biển sẽ gây tác động khi bị nhiễm mặn vào các giai đoạn làm đòng, bắt đầu trỗ, nở hoa và giai đoạn chín sữa. Hạt gạo có màu nâu dưới tác dụng của nước biển. Như vậy, khi xảy ra kịch bản vỡ đê, lúa mùa đã ở vào giai đoạn chịu tác động nặng nề nhất. BĐKH với sự thay đổi lượng mưa, thay đổi thời gian và cường độ mưa, gia tăng nhiệt độ cũng làm gia tăng sâu bệnh, làm thay đổi mùa vụ và giảm đáng kể sản lượng nông nghiệp.
Ngoài ra, lũ lụt, sự gia tăng nhiệt độ, sự chua hoá của nước biển còn gây nhiều hậu quả lớn tới nuôi thả, đánh bắt thuỷ sản. Lũ lụt cũng làm suy giảm chất lượng môi trường và gây thiệt hại tới các nguồn tài nguyên khác.
3.2 Các giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD tại Vinh Quang
Để giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH và NBD, cần xây dựng các giải pháp thích ứng. Nói chung, dạng thích ứng thích hợp nhất là thích ứng xây dựng trên các hoạt động hiện tại để ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan và có đóng góp tích cực vào phát triển bền vững kinh tế, quản lý tốt môi trường, tiến bộ xã hội và sử dụng khôn ngoan các nguồn tài nguyên. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá rủi ro, chúng tôi đã đề xuất những giải pháp thích ứng sau đây tại xã Vinh Quang. Cần chú ý là tuy đề ra cho xã Vinh Quang, các giải pháp này cũng thích hợp để áp dụng tại các khu vực có điều kiện tương tự trên phạm vi cả nước.
1) Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức của cán bộ chuyên môn, cán bộ lãnh đạo và cộng đồng về hiện tượng BĐKH và NBD, các tác động của BĐKH và NBD, các giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD. Giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức cán bộ lãnh đạo và nhân dân trong công tác phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường. của cán bộ lãnh đạo và nhân dân địa phương
- Phối hợp với các cơ quan chức năng và các dự án đào tạo, nâng cao năng lực cộng đồng để soạn thảo các tài liệu tuyên truyền, liên tục tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại và nâng cao năng lực các tuyên truyền viên ở cơ sở. Gửi các tuyên truyền viên chủ chốt đi tham dự các lớp đào tạo ở các cấp cao hơn;
- Xây dựng kế hoạch hoạt động, cơ chế đãi ngộ thích hợp đối với các tuyên truyền viên ở cơ sở để họ thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền.
- Tổ chức thực hiện và đôn đốc các tuyên truyền viên tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng đối với từng cá nhân và hộ gia đình.
- Tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng.
2) Tổ chức thực hiện và liên tục bổ sung, hoàn thiện Chương trình hành động cộng đồng ứng phó với BĐKH và NBD.
- Lưu trữ Chương trình hành động ứng phó với BĐKH và NBD tại Uỷ ban Nhân dân xã.
- Thường xuyên xem xét, bổ sung hoàn thiện Chương trình hành động cộng đồng ứng phó với BĐKH và NBD thông qua tổng kết ý kiến người dân và các cán bộ phụ trách công tác phòng chống thiên tai ở cấp cơ sở.
3) Luôn chú ý trồng mới và bảo vệ rừng ngập mặn để rừng thực hiện được chức năng bảo vệ đê, chống xói lở bờ biển, tăng cường quá trình lắng đọng phù sa ven bờ.
- Khuyến khích thực hiện, rút kinh nghiệm và cải tiến mô hình giao rừng ngập mặn cho dân quản lý nhưng có sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng và chính quyên địa phương.
- Tổ chức trồng thêm, trồng lại và phát triển rừng ngập mặn tại các khu vực rừng ngập mặn đã bị phá hoại
- Liên tục giám sát trạng thái rừng ngập mặn, có biện pháp bảo vệ
4) Xây dựng lực lượng ứng phó tại chỗ với thiên tai.
- Xây dựng các quy định, cơ chế, chính sách phục vụ hoạt động của lực lượng ứng phó tại chỗ với thiên tai, các kế hoạch đào tạo, nâng cao nhận thức, diễn tập.
- Tổ chức thực hiện: xây dựng lực lượng phòng chống thiên tai tại chỗ, thực hiện tập huấn, đào tạo, nâng cao kiến thức, thường xuyên tổ chức diễn tập.
5) Quy hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch đất ở, đất phục vụ các công trình công cộng (giao thông, thoát nước, trường học và các công trình công cộng khác), đất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển công nghiệp và các ngành nghề khác v.v. dựa trên phân tích rủi ro đối với mỗi mục đích sử dụng để giảm rủi ro tới mức thấp nhất.
- Không xây dựng công trình kiên cố tại khu vực cửa sông, nơi đang bị xói lở.
- Hạn chế xây dựng nhà cửa và các công trình kiên cố khác tại các vùng đất thấp, có nguy cơ úng ngập cao.
- Hạn chế xây dựng các công trình kiên cố phía ngoài đê và tại những tại những khu vực chưa ổn định và có khả năng bị ngập lụt, xói lở.
- Tính toán, xác định các khu vực có thể tái định cư và có kế hoạch dùng quỹ đất phục vụ tái định cư trong trường hợp phải di dời dân khỏi những khu vực có nguy cơ cao
- Tính toán đánh giá tác động môi trường và các tác động khác cúa dự án quai đê lấn biển, đảm bảo khu vực quai đê lấn biển không phải chịu rủi ro cao ngay cả trong trường hợp nước biển dâng.
6) Tăng cường xoá đói, giảm nghèo, tạo sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp cho những người có khả năng bị ảnh hưởng bởi BĐKH và NBD.
- Nghiên cứu, thực thi các chính sách xoá đói, giảm nghèo của Chính phủ, vận dụng các chính sách này một cách thích hợp ở điều kiện địa phương.
- Tăng cường hỗ trợ các hộ nghèo thông qua hỗ trợ từ Chính phủ, từ các tổ chức, cá nhân, cho vay với lãi suất ưu đãi.
- Phát triển tín dụng xoá đói giảm nghèo bền vững: tìm phương pháp vận dụng các cơ chế tín dụng một cách thích hợp, tăng cường đào tạo, hướng nghiệp để đảm bảo tiền vay với lãi suất thâp đến được tay người nghèo, được sử dụng hiệu quả và người vay có khả năng hoàn trả các tổ chức tín dụng khi đến hạn.
7) Tăng cường công tác bảo vệ môi trường
- Xây dựng các bể tự hoại tại mỗi hộ gia đình theo đúng tiêu chuẩn, đảm bảo không xả trực tiếp nước thải sinh hoạt ra môi trường.
- Tổ chức phân loại và xử lý rác thải tại hộ gia đình, không thực hiện xử lý rác thải tập trung.
- Tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ môi trường: xử lý rác thải không xả rác bừa bãi; không săn chim, thú; bảo vệ rừng ngập mặn và các hệ sinh thái tự nhiên; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các loại phân hoá học đúng cách v.v.
- Nghiên cứu xây dựng các khu bảo tồn ven biển để khôi phục lại hệ sinh thái ven biển.
8) Tăng cường công tác vệ sinh phòng dịch, nâng cao sức khoẻ cộng đồng
- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức vệ sinh phòng dịch của người dân.
- Xây dựng những quy chế xử lý rác thải, nước thải, giảm ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
- Tổ chức phun thuốc diệt muỗi định kỳ.
- Xây dựng, thường xuyên đào tạo, nâng cao năng lực các đội vệ sinh phòng dịch ở xã. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên tổ chức vệ sinh phòng dịch, nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
9) Áp dụng quản lý tổng hợp vùng bờ dể xây dụng kế hoạch sử dụng hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường và hài hoà quyền lợi của các bên liên quan trong sử dụng và quản lý đới bờ, bảo đảm phát triển bền vững.
10) Xây dựng cơ chế tài chính thích hợp phục vụ phòng chống thiên tai, BĐKH và NBD
- Xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai và cơ chế cần thiết để sử dụng hiệu quả quỹ phòng chống thiên tai, hỗ trợ tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp;
- Xây dựng các quỹ tín dụng xoá đói giảm nghèo. Thực hiện cơ chế cho vay bền vũng để tăng cường khả năng kinh tế cho các hộ gia đình để họ có thể thực hiện ứng phó với BDKH và NBD ở quy mô hộ gia đình một cách hiệu quả.
- Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên nghiên cứu xây dựng và áp dụng các cơ chế bảo hiểm thích hợp để giúp người dân tham gia được nhằm chuyển rủi ro cho các tổ chức tín dụng.
11) Quy hoạch lại các khu vực nuôi trồng thuỷ sản ngoài bãi và tăng cường áp dụng kiến thức khoa học vào nuôi trồng thuỷ sản để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản.
- Bảo đảm có các hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt được tính toán thiết kế bởi các chuyên gia có chuyên môn để đảm bảo nuôi trồng thuỷ sản bền vững, cải thiện môi trường tự nhiên tại khu vực nuôi trồng thuỷ sản, phòng tránh dịch bệnh.
- Chú ý thiết kế bờ bao các đầm nuôi thuỷ sản để đảm bảo chống được triều cường kèm theo nước dâng bão, gió mùa ở mức độ nhất định, giảm thiệt hại của BĐKH và NBD tới nuôi trồng thuỷ sản.
- Đa dạng hoá hoạt động nuôi trồng thuỷ sản. Lựa chọn hài hoà những loại thuỷ sản thích hợp, hoạt động nuôi trồng ít ảnh hưởng tới môi trường và những loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao nhưng hoạt động nuôi trồng ảnh hưởng tới môi trường. Khuyến khích học tập kinh nghiệm kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai.
- Chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu thụ thuỷ sản, đảm bảo phát triển bền vũng ngành nuôi trồng thuỷ sản.
12) Quy hoạch hợp lý ngành khai thác hải sản nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
- Tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khai thác, đánh bắt hải sản.
- Tuyên truyền, vận động người dân không sử dụng những biện pháp đánh bắt hải sản huỷ diệt như dùng mìn, chất độc; hướng dẫn và khuyến khích người dân áp dụng những phương pháp khai thác hải sản bền vững, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái biển, hệ sinh thái vùng bãi triều, hệ sinh thái vùng cửa sông và rừng ngập mặn.
- Thực hiện xoá đói giảm nghèo và đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho những hộ dân nghèo làm nghề khai thác hải sản tại những ngư trường đã bị quy hoạch sử dụng cho các mục đích khác (bảo tồn, nuôi trồng hải sản theo các phương pháp bền vững v.v.).
13) Chú trọng giảm thiểu rủi ro tới các hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Lựa chọn các loài lúa có chất lượng cao nhưng có khả năng chịu mặn, chống chọi với bệnh tật, sâu bệnh.
- Lựa chọn các loài cây trồng, vật nuôi thích hợp, có hiệu quả kinh tế cao, giúp bảo vệ môi trường và tránh suy thoái đất.
- Chú trọng xây dựng hệ thống tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp để bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao mức sống của người dân.
14) Chú trọng đa dạng hoá ngành nghề, phát triển công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề phụ
- Đa dạng các ngành nghề, đảm bảo chuyển đổi dần cơ chế từ thuần nông sang cơ chế đa dạng ngành nghề, trong đó có phần đóng góp của dịch vụ, tiểu thủ công nghiệm, công nghiệp và các ngành nghề khác.
- Chú trọng phát huy những ngành nghề phụ truyền thống để đa dạng hoá sản xuất.
15) Nâng cấp cơ sở hạ tầng
- Củng cố hệ thống đê điều, đảm bảo từng bước chịu được bão cấp 12 trong điều kiện triều cường.
- Nâng cấp đường giao thông để tránh úng ngập, bảo đảm giao thông thuận tiện ngay cả trong điều kiện ngập lụt do vỡ đê. Sử dụng cácđường giao thông như là các đê phụ để nếu có vỡ đê, ngập lụt không xảy ra trên diện rộng.
- Nâng cấp các công trình tiêu thoát nước tại các khu vực có nguy cơ úng ngập cao để đảm bảo tiêu thoát nước nhanh sau khi mưa, phòng tránh úng ngập gây thiệt hại cho nông nghiệp.
- Nâng cao trình nền nhà và các công trình công cộng tại các khu vực có nguy cơ úng ngập cao để tránh nước tràn vào nhà nếu bị ngập lụt.
- Xây dựng các phương án sơ tán dân, phòng tránh thiên tai khi vỡ đê và ngập lụt xảy ra.
- Nâng cấp một số công trình công cộng (như trường học, nhà uỷ ban v.v.) để có thể sử dụng làm nơi sơ tán trong thiên tai bão, lụt.
16) Liên tục tổ chức giám sát, đánh giá hiệu quả của các giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD, đưa ra các biện pháp cải tiến khi cần thiết.
4. Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
- Các kết quả điều tra cho thấy những biểu hiện của BĐKH và NBD tại khu vực xã Vinh Quang, Huyện Tiên Lãng, Thành Phố Hải Phòng. So sánh với các kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước, có thể thấy rằng những vấn đề đang tồn tại tại Vinh Quang sẽ có khả năng trầm trọng hơn khi có BĐKH và NBD.
- Thích ứng với BĐKH và NBD đòi hỏi phải kết hợp rất nhiều giải pháp. Để thực thi các giải pháp này có sự nỗ lực của Chính quyền địa phương và người dân địa phương. Trước hết, cần tập trung vào các giải pháp để giải quyết các vấn đề hiện đang tồn tại như suy thoái tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường, các mâu thuẫn giữa các bên liên quan trong sử dụng và khai thác tài nguyên khu vực ven biển, phòng tránh thiên tai, xoá đói giảm nghèo, nâng cao sức khoẻ cộng đồng v.v. Việc giải quyết thành công các vấn đề đang tồn tại sẽ cung cấp cơ sở để tiếp tục giải quyết các vấn đề phát sinh trong tương lai do BĐKH và NBD.
- Việc đánh giá rủi ro do BĐKH và NBD đòi hỏi một lượng thông tin rất lớn. Tuy vậy, thông tin tại địa phương thường không đầy đủ nên kết quả đánh giá rủi ro vẫn còn mang nhiều tính chất định tính. Bởi vậy, trong các giải pháp ứng phó với BĐKH và NBD, việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng, trên cơ sở đó thu thập được đầy đủ thông tin là rất cần thiết.
- Các phân tích ban đầu cho thấy các vấn đề tại xã Vinh Quang, các kết quả đánh giá rủi ro và các giải pháp thích ứng được đề xuất tại đây rất tương tự với các kết quả đánh giá rủi ro và các giải pháp thích ứng tại các địa phương khác trong cả nước. Vậy kết quả nghiên cứu tại xã Vinh Quang nên được tham khảo khi nghiên cứu đánh giá rủi ro và xây dựng chương trình hành động cộng đồng ứng phó với BĐKH và NBD tại các địa phương khác trong phạm vi cả nước.
4.2 Kiến nghị
- Nên sử dụng phương pháp xây dựng những giải pháp ứng phó với BĐKH và NBD dựa trên cách tiếp cận rủi ro do những ưu điểm của nó.
- Có chương trình quan trắc, thu thập thêm các số liệu về tài nguyên, môi trường, kinh tế, xã hội, thiên tai tại các địa phương nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, đánh giá rủi ro do BĐKH và NBD và xây dựng các giải pháp đáp ứng.
Lời cảm ơn: Bài báo này được hoàn thành với kinh phí của dự án “Tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối quốc gia về BĐKH – DC4CCFP”. Tác giả xin cảm ơn các cán bộ tham gia thực hiện dự án như KS Phạm Thiên Nga, Viên Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, TS Dư Văn Toán, KS Trần Thế Anh, KS Vũ Thị Hiền, KS Vũ Thị Thuỳ, KS Nguyễn Văn Tiến, CN Nguyễn Tân Được, CN Nguyễn Hoàng Anh và một số cán bộ khác thuộc Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo.
PGS. TS Vũ Thanh Ca
Viện Nghiên cứu quản lý biển, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
TIN TIÊU ĐIỂM
Một thoáng quê hương07/09/2010, 12:31:21 PM(Vfej.vn)- Quê hương qua ống kính của Nguyễn Văn Bửu - Ninh Thuận là một buổi sáng mờ sương ở...
Nguồn sáng07/09/2010, 11:38:51 AM(Vfej.vn)-Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm (thường được gọi tắt là Phan Rang) là tỉnh lỵ của Ninh Thuận. Vùng đất...
Tháng vàng khuyến mại của FPT Telecom07/09/2010, 10:57:02 AM(Vfej.vn)-Từ ngày 1/9 đến hết 30/9/2010, Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom) triển khai chương trình khuyến...
Khai mạc Hội nghị về Phát triển rừng bền vững tại Việt Nam07/09/2010, 10:43:04 AM(Vfej.vn)-Từ ngày 07 đến 08/09/2010 tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị quốc tế Lâm nghiệp với chủ đề...
Bảo vệ tài nguyên biển ở Nghệ An gặp khó khăn06/09/2010, 03:26:04 PM(Vfej.vn)-Công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng biển của Nghệ An còn khó khăn, tình trạng sử dụng...
Thiếu thói quen minh bạch thông tin06/09/2010, 11:40:58 AMThường khi có một báo cáo xếp hạng nào đó được công bố là kéo theo làn sóng phản đối...
Viếng đền Bà Chúa Kho06/09/2010, 10:10:07 AM(Vfej.vn)-Đền Bà Chúa Kho toạ lạc trên lưng chừng ngọn núi Kho, tại khu Cô Mễ, xã Vũ Ninh, TP...
Khai trường, săn chữ ký GS Ngô Bảo Châu06/09/2010, 10:00:02 AM(Vfej.vn)-Một học sinh lớp 5A, Trường Thực nghiệm Hà Nội, trong buổi khai giảng hôm qua thực hiện cuộc đột...
Phát triển rừng bền vững trong bối cảnh BĐKH06/09/2010, 09:16:33 AM(Vfej.vn)-Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn Việt Nam (NN&PTNT) và Bộ Hợp tác Kinh tế&Phát triển, Cộng hòa Liên Bang...
Nguy cơ tai nạn từ đò dọc, đò ngang không phép06/09/2010, 09:01:01 AM(Vfej.vn)-Hàng năm, cứ vào mùa tựu trường, tình trạng đò dọc đò ngang, tàu thuyền đưa rước học sinh “bùng...
XEM NHIỀU NHẤT
Thời tiết
22°C
Độ ẩm 90%
Gió tây
tốc độ 1 m/s












